NHỮNG CÁCH TÂN TRONG LỐI CHƠI


Tennis đã thay đổi rất nhiều so với 30-40 năm qua. Nói điều này hơi thừa. Nhưng vấn đề là thay đổi thế nào? Dựa vào đâu mà có những thay đổi đó? Nếu ta biết được điều này thì ta có thể dự đoán được những xu hướng thay đổi trong tương lai.
Hãy lấy điểm khởi đầu để xem xét sự tiến hóa của tennis là đầu thập niên 1970. Khi đó, mặt sân cỏ chiếm ưu thế. 3 trong 4 giải Grand Slam (trừ Roland Garros) sử dụng mặt sân cỏ. Mặt sân này bị cày xới nhiều mỗi khi sử dụng, dẫn đến việc các cú nảy bóng rất tệ. Bởi thế, hầu hết các tay vợt chọn lối chơi giao bóng rồi lên lưới bắt volley bóng sống. Tránh những cú nảy bóng tệ bằng cách tránh tất cả các cú nảy bóng!
Thời đó, có hai kiểu cầm vợt chính: kiểu Úc và kiểu Mỹ. Người Úc thích triết lý “một kiểu cầm vợt thích hợp cho mọi cú đánh”. Nếu bạn phải chọn một kiểu cầm vợt cho mọi cú đánh, chắc chắn bạn sẽ chọn kiểu cầm Continental (số 2). Kiểu cầm này được bạn sử dụng để giao bóng và volley, cũng tốt cho các cú backhand một hoặc hai tay. Điểm yếu duy nhất của kiểu cầm này là forehand. Không ngạc nhiên lắm khi thấy các tay vợt Úc không có các cú forehand ổn định.
Với kiểu cầm này, giao bóng và volley là quá ổn rồi. Thế còn các cú đánh trung gian trước khi tiếp cận lưới? Người Úc dùng các cú cắt bóng. Cầm kiểu này rất khó tạo ra các cú passing shot (cú đánh ngang người đối thủ khi đối thủ đã rời vạch cuối sân để lên tấn công) uy lực bằng forehand vì bóng dễ ra ngoài. Thay vì chơi các cú passing shot, họ dùng các cú lốp bóng qua đầu. Và cũng vì quen chơi các cú lốp nên khả năng smash của họ rất khá.
Người Mỹ thì sử dụng 3 kiểu cầm vợt: Eastern forehand (số 3) cho cú forehand, Continental cho giao bóng và volley, Eastern backhand (số 1) cho backhand. Người Mỹ cũng thích chơi giao bóng lên lưới.
Ngày đó, các cú đáng tpospin được xem như là mới lạ. Dù sân cỏ thống trị cuộc chơi nhưng sân đất nện vẫn dùng ở nhiều nước châu Âu và Nam Mỹ nên vẫn có nhiều chuyên gia sân đất nện và họ đều biết chơi topspin. Huyền thoại Rod Laver áp dụng topspin vào lối chơi của ông trên các loại mặt sân trước thập kỷ 1970, điều đó giải thích tại sao ông rất thành công vào cuối thập kỷ 1960.
Từ giữa thập niên 1970, các mặt sân cỏ bắt đầu bị thu hẹp và thay thế dần bằng sân cứng nên topspin ngày càng được tín nhiệm. Bjorn Borg rồi Ivan Lendl đi thêm các bước nữa phát triển các cú đánh topspin để đến bây giờ nó trở nên phổ dụng. Từ thập niên 1980, vợt làm bằng chất liệu composite, graphite vừa nhẹ, vừa ra lực mạnh thay dần vợt gỗ, thép, hợp kim nhôm khiến lối chơi của các tay vợt bắt buộc phải thay đổi nhiều hơn nữa. Dưới đây là những thay đổi.
·        Mặt vợt rộng
Đi tiên phong trong việc này là tay vợt nữ Pam Shriver, người rất thành công khi đứng đôi nữ với Navratilova trong nhiều năm. Năm 1978, Shriver đã lọt vào trận chung kết US Open khi mới 16 tuổi bằng cây vợt Prince có diện tích mặt vợt 110 inch trong khi các đối thủ của bà chỉ dùng mặt vợt có diện tích 70 inch. Mặt vợt rộng thì tất nhiên diện tích "điểm ngọt" càng rộng, đánh bóng càng dễ dàng. Mặt vợt 110 hiện đang phổ biến trong tennis hiện đại.



·        Bỏ nhỏ và volley bỏ nhỏ
Trong thập niên 1990, các cú này gần như biến mất trên các sân đấu. Nhưng bây giờ nó trở lại như một vũ khí để thay đổi nhịp độ trận đấu, kéo các đối thủ tạt bóng uy lực từ vạch cuối sân ra khỏi vùng đánh bóng ưa thích của họ. Murray, Federer, Nadal, Djokovic, Melzer là các tay vợt bỏ nhỏ khéo.



·        Squash shot forehand
Đây là cú chém vào phần dưới trái bóng bằng forehand như đánh bóng trong môn squash (môn chơi dùng vợt đánh bóng vào bức tường trước mặt giữa hai người). Ngày trước, các cú lốp bóng được sử dụng để phòng thủ nhưng nếu lốp bóng không đủ sâu thì tay vợt sẽ bị thua điểm bởi cú smash của đối thủ. Bây giờ, các cú squash shot được dùng để phòng thủ, cú này cho bóng đi chìm, khiến đối thủ không thể khinh suất. Nếu đối thủ dứt điểm cú này thì khả năng bóng hỏng khá cao. Vì vậy, phòng thủ bằng cú này giúp tay vợt có thời gian lấy lại tư thế của mình cho cú đánh tiếp theo. Federer, Djokovic chơi cú smash shot rất đẹp.



·        Cú backhand hai tay
Dù Cliff Drysdale đã sử dụng cú này trước đó nhưng đến giữa thập niên 1970 nó mới bắt đầu phổ biến nhờ sự thành công của Borg, Jimmy Connors và Chris Evert. Với hai tay, các cú đánh backhand trở nên cân bằng và ổn định hơn một tay. 3 tay vợt kể trân đều đánh bachand hay hơn forehand. Ngày nay, tỉ lệ các tay vợt dùng backhand một tay rất thấp, khoảng 15%.



·        Cú inside-out-forehand
Đây là cú né trái đánh phải (đối với người cầm vợt tay phải) đưa bóng đi theo đường chéo sân. Nếu bạn chỉ cú đánh này cho các tay vợt ở tập niên 1960, họ sẽ cười vào ý tưởng của bạn. Tại sao không dùng backhand? Tại sao phải di chuyển vất vả để thực hiện cú forehand như vậy? Ngày đó, lối chơi lên lưới là tối thượng, người ta không quan niệm các cú này được dùng để thắng điểm, không ai tin cú này có khả năng giành được điểm.
Còn sau này, các cây vợt đã phát triển, nhẹ hơn, cho bóng đi uy lực hơn do đó dứt điểm bằng các cú đánh kiển này rất hiệu quả. Lendl là người đầu tiên sử dụng cú này. Agassi và Sampras sau đó cũng là tay vợt sử dụng nó rất hay. Ngày nay, nó là kỹ năng của mọi tay vợt.



·        Recovery slice backhand (Cắt bóng bằng backhand)
Thời xưa, cú này dùng để tiếp cận lưới, nó được coi như cú đánh tấn công. Ken Rosewall coi đây là cú đánh chủ yếu trong lối chơi của ông. Ngày nay, nó được sử dụng khi các tay vợt bị đẩy vào thế thủ. Một cú cắt bóng chìm làm đối thủ không còn lựa chọn nào khác là phải đánh bóng chậm, ngắn lại. Nó còn được sử dụng nhằm thay đổi nhịp độ thi đấu, kéo đối thủ ra khỏi vùng tạt bóng ưa thích của anh ta. Verdasco, Tsonga, Youhzny, Tomic, Federer sử dụng cú này rất khéo.
·        Cú Reverse forehand (forehand đảo ngược)
Nhờ các cú giao bóng uy lực, Sampras đã chiến thắng tại 7 giải Wimbledon, song anh cũng có cú đánh rất quan trọng ở thời đại này: cú reverse forehand. Mỗi khi gặp Sampras, Agassi thường dùng các cú đánh chéo để kéo Sampras ra ngoài sân nhưng Sampras thường đuổi kịp, dùng những cú reverse forehand tạo ra những cú trả bóng tấn công lại với những góc rất sắc.
Nadal sau này đã nâng cú reverse forehand lên một tầm mới. Nadal cầm vợt kiểu Western (số 5) khi đánh cú này, mặt vợt úp khi bắt đầu ra vợt và ở góc 45 độ so với phương ngang khi tiếp xúc bóng, vuốt hoàn toàn vào đầu trái bóng, cho topspin rất nặng, làm bóng nảy dựng lên sau khi tiếp xúc với mặt sân bên kia. Nếu cánh tay không khỏe thì bóng đi khá ngắn nhưng với cơ bắp như của Nadal thì bóng dễ dàng đi về cuối sân bên kia. Những cú giật reverse forehand bằng tay trái này của Nadal là “thuốc độc” đối với những cú backhand một tay của Federer, nhờ vậy Nadal là khắc tinh của Federer.
Các tay vợt đánh backhand một tay, cầm vợt kiểu Eastern backhand (số 1) có thể sử dụng reverse forehand mà không cần xoay cán vợt, vì số 1 tương đồng với số 5, sử dụng một mặt với cho cả cú backhand lẫn forehand.
·        Passing shot hiện đại
Reverse forehand trở thành yếu tố chính cho các cú passing shot hiện đại. Thời trước, dùng cú flat forehand để thực hiện passing shot gần lưới rất mạo hiểm vì bóng dễ bung ra ngoài, vì thế các tay vợt hay chọn giải pháp lốp qua đầu đối thủ. Sau này, nhờ reverse forehand, bóng được "miết" từ trên xuống, đi rất nặng, đảm bảo cắm sang phần sân bên kia khi tràn lên thực hiện passing shot.
·        Giao bóng “phần trăm”
Thống kê vào thập niên 1980 cho thấy các tỉ lệ giao bóng 1 thành công của các tay vợt là dưới 60%. Lendl cũng chỉ vào khoảng 50%. Ngày nay, hầu hết các tay vợt đều có tỉ lệ giao bóng 1 thành công trung bình là 70%. Họ buộc phải tập luyện nhiều để nâng tỉ lệ này lên vì các đối thủ của họ đều trả giao bóng rất tốt, và cú giao bóng 2 của họ có thể bị đối thủ tấn công lại bất kỳ lúc nào.



·        Thể lực và sự di chuyển
Lendl không chỉ đẩy cuộc chơi hướng về phía trước bằng các cú forehand rất nặng, inside-out-forehand mà ông còn đưa chế độ luyện tập và kiêng khem lên tầm mới. Cả Lendl lẫn Navartilova đều là những người rất chú trọng tập thể lực và sức chịu đựng. Lendl thường có thói quen mời các tay vợt trẻ hơn ông như Sampras đến luyện tập với mình.
Khi cuộc chơi nhanh hơn với các cú tạo góc rất sắc như reverse forehand thì các tay vợt nhận ra rằng họ phải đuổi theo mọi cú đánh nếu muốn chiến thắng. Nghĩa là phải di chuyển nhanh hơn, cân bằng hơn, bền bỉ và nhanh hồi phục hơn. Nghĩa là phải đầu tư cho thể lực rất nhiều.
·                    Forehand kiểu cần gạt nước xe hơi
Ngày trước, các cú forehand thường kết thúc với đầu vợt cao, Sampras làm như vậy Agassi phát triển thêm bằng cách xoay hông 180 độ khi thực hiện các cú forehand, đầu với trong cú này "xoa" một vòng trước mặt giống như cần gạt nước xe hơi, làm bóng đi nặng và xoáy. Cú đánh mới lạ ở thập niên 1990 này trở nên phổ biến vào những năm 2000. Tất cả các tay vợt bây giờ đều cầm vợt kiểu Eastern forehand (số 3) xoay hông 180 độ khi đánh forehand: Djokovic, Soderling, Tsonga... Chỉ Nadal là hơi khác, vì cú reverse forehand của anh không cần xoay hông, đứng ngang vạch cuối sân giật bóng lên là được.
·        Kick serve
Được hầu hết các tay vợt sử dụng làm cú giao bóng 2 vì nó an toàn. Kỹ thuật này thoạt đầu rất khó tập, đặc biệt là khi tung bóng. Với người thuận tay phải, bóng phải được tung ở đỉnh đầu hoặc về phía sau cơ thể một chút (bên trái). Nhưng khi đã tập được thì tỉ lệ bóng vào sân rất cao, bóng khá xoáy và dựng, khiến đối thủ khó tấn công, cú giao bóng này được ngay. Djokovic hiện là tay vợt sử dụng kick serve hay nhất, rất hiếm khi anh mắc lỗi giao bóng kép trong các trận đấu.
·        Swinging volley
Lại một sự cách tân nữa bắt đầu từ Lendl. Ông có cú topspin forehand rất nặng nhưng cú volley của ông thì bình thường, bởi vậy ông biến đổi các cú volley “truyền thống” sang swing volley, đè bóng từ trên cao. Điểm tiếp xúc bóng trong swinging volley cao hơn volley truyền thống. Cả cơ thể “bay” về phía trước khi mặt vợt tiếp xúc với bóng, hông xoay 180 độ khiến đầu vợt đi như cần gạt nước. Cầm vợt số 3 tiếp xúc bóng gần người hơn cầm vợt số 4 hay số 5. Các tay vợt hiện nay đều giỏi về kỹ năng này.
  • Tác giả bài viết: Tín Nghĩa